QUANTRI.COM.VN

Thứ sáu, 18 Tháng 5 2012
Chào mừng bạn đến với trang tin và diễn đàn của Cộng Đồng Quản Trị Việt. Bạn có thể cập nhật thông tin, thắc mắc chia sẻ về kiến thức và các tình huống chuyên ngành Quản Trị. BẤM VÀO ĐÂY để đăng ký tham gia diễn đàn và cùng chia sẻ thảo luận với mọi người.



Gập ghềnh con đường phục hồi kinh tế toàn cầu

PDF.
+ 0
+ 0
Gập ghềnh con đường phục hồi kinh tế toàn cầu   Trong khi khủng hoảng nợ tại Dubai còn chưa hết ảnh hưởng, sự phục hồi kinh tế toàn cầu lại một nữa bị tác động bởi cuộc khủng hoảng tín dụng công của Hy Lạp. Hôm 8/12, Cơ quan đánh giá tín dụng quốc tế Fitch đã hạ thấp xếp hạng tín dụng của Hy Lạp từ “A-” xuống “BBB +”.
 

Doanh nghiệp xem nhẹ kiểm soát nội bộ

PDF.
+ 0
+ 0
Doanh nghiệp xem nhẹ kiểm soát nội bộ Doanh nghiệp Việt Nam cần nâng cao vai trò của công tác kiểm soát nội bộ và quản lý rủi ro để đạt được các mục tiêu kinh doanh, giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh và khủng hoảng. Kiểm soát nội bộ là hoạt động được thực hiện nhằm giảm thiểu rủi ro, như việc không thực hiện được các mục tiêu kinh doanh. Thực tế cho thấy, các công ty luôn phải đối mặt với một mức độ rủi ro cao hơn mức độ kiểm soát đã đặt ra.

Các quỹ đầu cơ đang tiến hóa thế nào để tồn tại?

PDF.
+ 0
+ 0
Các quỹ đầu cơ đang tiến hóa thế nào để tồn tại? Các quỹ đầu cơ (hedge funds) trên toàn thế giới đang trải qua một giai đoạn khó khăn chưa từng có. Một mặt, họ đang phải phải chứng minh với nhà đầu tư khả năng đem lại lợi nhuận bất chấp cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Mặt khác, qua các vụ bê bối và lừa đảo gây chấn động dư luận gần đây, các quỹ đầu cơ buộc phải nhìn lại những hạn chế hệ thống của mình từ đó tìm cách tiến hóa để tồn tại theo xu hướng phát triển chung của thị trường.Trong đó, có thể kể ra những hạn chế quan trọng như mô hình thu phí quản lý và thưởng chưa hợp lý, phương thức đầu tư gây tranh cãi, cam kết về lợi nhuận không được thực thi, hình thức tổ chức quản lý quá lỏng lẻo, tính minh bạch kém hay khả năng giám sát còn nhiều hạn chế của cơ quan quản lý thị trường. Hiện trạng không mấy sáng sủaCách đây chỉ mới không lâu, hầu hết các nhà đầu tư còn ào ạt đầu tư vào các quỹ đầu cơ. Các nhà quản lý quỹ đầu cơ được giới đầu tư tung hô như những “ông chủ mới của vũ trụ”.Vậy mà bây giờ, họ đua nhau rút tiền ra khỏi các quỹ, kể cả một số quỹ có lợi nhuận. Tính đến hết năm 2008, theo ước tính của HedgeFund Intelligence, tổng tài sản của các quỹ đầu cơ đã giảm đến hơn 30% chỉ còn hơn 1.800 tỉ USD. Tồi tệ hơn, các quỹ đầu cơ còn bị qui trách nhiệm là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay khiến cho cả thế giới rơi vào cuộc suy thoái kinh tế sâu rộng nhất kể từ sau Thế chiến thứ 2. Sau năm 2008 bết bát chưa từng có của quỹ đầu cơ (thua lỗ trung bình -15%), rất nhiều ý kiến cho rằng hệ thống quỹ đầu cơ đang dần tàn lụi, nhưng thực tế cho thấy, thị trường chỉ đang và sẽ loại bỏ những quỹ có chiến lược đầu tư tồi hoặc nhà quản lý quỹ tồi. Giống như định luật Darwin, những quỹ tốt nhất sẽ tồn tại và trở nên mạnh mẽ hơn sau khủng hoảng, thu hút nhiều hơn nữa dòng tiền từ các nhà đầu tư thông minh tinh tế muốn tìm kiếm lợi nhuận cao hơn kì vọng chung của thị trường, trong khi phải chịu rủi ro ít hơn.Nguồn số liệu: hedgefund.net Các xu hướng tiến hóa Hợp lý hóa mô hình phí quản lý và thưởng Mô hình phí truyền thống của một quỹ đầu cơ là 2-20, tức là nhà đầu tư sẽ trả 2% phí quản lý hàng năm trên số tiền đầu tư, cộng với 20% tiền thưởng trên lợi nhuận hàng năm đạt được. Mô hình này bị chỉ trích khá nhiều vì nhà đầu tư cho rằng 2% phí quản lý là không xứng đáng khi quỹ đầu cơ thua lỗ, mặt khác 20% tiền thưởng cũng cao hơn so với các quỹ đầu tư bình thường. Thực ra, ngay cả trong một năm tồi tệ như năm 2008, có đến 1/3 quỹ đầu cơ có lợi nhuận, trong khi đó chỉ có 1/1.700 quỹ tương hỗ làm được điều tương tự. Điều này cho thấy rằng các quỹ đầu cơ phần nào xứng đáng với tiền phí cao mà nhà đầu tư chấp nhận trả. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của ông Mark Kritzman, Tổng giám đốc Công ty Quản lý tài chính Windham Capital Management, mô hình phí 2-20 không công bằng vì tính chia sẻ bất cân xứng giữa quỹ đầu cơ và nhà đầu tư. Quĩ đầu cơ không hề chia sẻ thua lỗ với nhà đầu tư, ngược lại khi có lợi nhuận nhà đầu tư phải chia lại cho quỹ đầu cơ một khoản đáng kể. Mô hình này làm mất đi hầu hết tính hấp dẫn vốn có của quỹ đầu cơ, thậm chí lợi nhuận của nhà đầu tư sau khi trừ đi phí và thưởng không còn cao hơn so với lợi nhuận đạt được của các chỉ số như S&P 500. Một hướng thay đổi cho mô hình phí 2-20 đã được nhiều quỹ đầu cơ áp dụng là nhà đầu tư và quỹ đầu cơ thỏa thuận một mốc lợi nhuận cố định (ít nhất ngang với lãi suất liên ngân hàng, hay lãi suất trái phiếu chính phủ ngắn hạn). Quĩ đầu cơ chỉ được phép nhận tiền thưởng khi vượt qua được mốc lợi nhuận này, và tiền thưởng chỉ được tính từ mốc này trở lên. Khắc phục tranh cãi trong phương thức đầu tư Khác với quỹ tương hỗ, quỹ đầu cơ chỉ dành cho các khách hàng đầu tư một khoản tiền lớn (vài triệu USD có thể là một khoản đầu tư lớn ở quỹ tương hỗ, nhưng đó chỉ là một khoản đầu tư rất khiêm tốn ở quỹ đầu cơ). Do đặc thù trong chiến lược đầu tư, quỹ đầu cơ thường chỉ cho phép nhà đầu tư rút tiền ra một cách hạn chế (chẳng hạn nhà đầu tư chỉ được phép rút ra mỗi tháng 20% tổng số tiền đầu tư vào quỹ). Ngoài ra, còn có định chế cho phép quỹ đầu cơ tạm thời chặn lại không cho nhà đầu tư rút tiền ra khỏi quỹ. Mục đích của định chế này là giúp cho các quỹ đầu cơ ngăn chặn làn sóng rút tiền hàng loạt từ nhà đầu tư, gây khó khăn cho hoạt động của các quỹ đầu tư vào các tài sản có tính thanh khoản thấp, hay các quỹ sử dụng đòn bẩy tài chính cao. Điểm tranh cãi không phải bản thân định chế ngăn chặn nhà đầu tư rút tiền, mà là liệu nhà quản lý có được phép thu phí của nhà đầu tư sau khi đã quyết định ngăn chặn họ rút tiền hay không. Nhà đầu tư hiển nhiên sẽ không hài lòng nếu bị thu phí, vì tiền của họ vẫn ở trong quỹ là ngoài ý muốn. Tuy nhiên, quyết định cuối cùng vẫn nằm trong tay của quỹ đầu cơ. Thực tế là trong thời gian khó khăn vừa qua, nhiều quỹ đã tự nguyện ngừng thu hoặc giảm phí khi ra quyết định giới hạn nhà đầu tư rút tiền. Cách hành xử thông minh này có lợi cho cả quỹ đầu cơ lẫn nhà đầu tư và đang trở thành một chuẩn mực phổ biến cho hệ thống quỹ đầu cơ. Đáp ứng tiêu chuẩn cao của nhà đầu tư Nhà đầu tư một khi đã chấp nhận trả phí cao để đầu tư vào quỹ đầu cơ luôn yêu cầu cao về lợi nhuận. Họ thường lấy một cột mốc chuẩn là lợi nhuận của các quỹ tương hỗ hay các chỉ số như S&P 500, từ đó yêu cầu lợi nhuận của quỹ đầu cơ phải vượt qua cột mốc này. Hơn nữa, khác với quỹ tương hỗ, nhà đầu tư khó chấp nhận thua lỗ khi bỏ tiền vào quỹ đầu cơ, kể cả vào những thời điểm cực kì khó khăn như hiện nay. Kết thúc năm 2008, chỉ số S&P 500 giảm đến 40%, nhưng không vì thế mà yêu cầu của nhà đầu tư với các quỹ đầu cơ giảm đi. Họ tin tưởng quỹ đầu cơ vì hiểu rằng nhờ hấp dẫn tài chính, quỹ đầu cơ luôn thu hút các tài năng tốt hơn các quỹ bình thường. Một điều đáng tiếc là có một số quỹ đầu cơ hoạt động theo kiểu “ăn xổi ở thì”. Trong những năm tài chính tốt, họ ào ạt mở rộng quỹ và thu tiền của nhà đầu tư. Ngược lại, đến năm xấu như năm vừa qua, họ đóng quỹ khi bị thua lỗ để né tránh mục tiêu đề ra, rồi sau đó mở một quỹ mới và bắt đầu thu hút các khoản đầu tư mới. Các thức hoạt động này làm giảm mạnh mẽ lòng tin của các nhà đầu tư và làm giảm uy tín chung của hệ thống quỹ đầu cơ. Một nhà quản lý quỹ tốt cần phải biết đối mặt với hậu quả, từ đó khắc phục, hoàn thiện và nâng cấp chiến lược đầu tư của mình. Nhà quản lý quỹ không thể đơn giản quay lưng bỏ đi khi đầu tư thua lỗ, vì một khi đã mất uy tín với nhà đầu tư, anh ta sẽ không bao giờ tìm lại được. Cần nhớ rằng các nhà đầu tư vào quỹ đầu cơ đều là những tổ chức tài chính lớn hoặc là những khách hàng giàu có, nên việc xây dựng và bảo vệ uy tín với nhà đầu tư là tối quan trọng.Cải tổ hình thức tổ chức quản lý quỹMột thực tế làm nhiều nhà đầu tư chùn tay khi xem xét đầu tư vào các quỹ đầu cơ là hình thức quản lý “cây nhà lá vườn” của rất nhiều quỹ. Thứ nhất, quỹ đầu cơ thường có trụ sở ở các thiên đường thuế (Caymans, Antigua,…). Thứ hai, quỹ đầu cơ có khuynh hướng thiết lập một hội đồng quản lý nhỏ và nhiều khi chỉ mang tính hình thức. Nhiều nhà quản lý quỹ đưa bạn bè hay người thân của mình vào hội đồng (ví dụ trong vụ lừa đảo của tỷ phú Stanford bị phát hiện mới đây, ông này đưa cha của mình là một người bị bệnh nặng không còn khả năng làm việc vào trong hội đồng quản lý quỹ). Kết quả là các cuộc họp thường rất nhẹ nhàng và thoải mái, các vấn đề khó, các cuộc thảo luận gây tranh cãi không được mổ xẻ đến cùng. Do yêu cầu hình thức, nhiều quỹ tuyển dụng một giám đốc quỹ, thường là một nhân vật địa phương nơi quỹ đặt trụ sở nhiều khi không hề có kĩ năng gì liên quan đến quản lý quỹ đầu cơ. Vị “giám đốc” này chỉ việc đứng tên, tham dự một số cuộc họp của quỹ và lĩnh tiền lương hàng tháng. Những nhân vật vô tích sự này sẽ phải sớm bị đào thải qua cuộc khủng hoảng tài chính, do áp lực của nhà đầu tư hay do chế tài mới của cơ quan quản lý thị trường. Thu hẹp qui mô và tăng cường tính minh bạch Ngành "công nghiệp" quỹ đầu cơ đang có khuynh hướng giảm quy mô, từ khoảng 10.000 quỹ hiện nay đến chỉ còn trên dưới 6.000 quỹ trong thời gian tới. Nguyên nhân chính là thua lỗ, và từ sự siết chặt quản lý của chính phủ. Những quỹ đầu cơ tồn tại được sẽ có đội ngũ ít hơn, sử dụng ít đòn bẩy tài chính hơn, và có lẽ sẽ ít phí và thưởng hơn. Các quỹ có được những chiến lược đầu tư sáng tạo và hiệu quả sẽ luôn tìm được nhà đầu tư. Những quỹ yếu kém đầu tư ăn theo sẽ dần dần bị loại bỏ. Điều này sẽ tốt cho cả nền công nghiệp quỹ đầu cơ và cả nhà đầu tư. Từ vụ lừa đảo theo kiểu Ponzi của Bernard Madoff, sẽ có những dịch vụ liên quan đến quỹ đầu cơ nở rộ. Thứ nhất là dịch vụ kiểm soát giá trị thực của các quỹ hàng tháng để thông báo cho nhà đầu tư. Thứ hai là dịch vụ tư vấn với mục đích khảo sát hoạt động của quỹ đầu cơ và báo động cho nhà đầu tư nếu tìm thấy những vấn đề mờ ám. Hai dịch vụ này dần dần sẽ trở nên thiết yếu cho nhà đầu tư khi đầu tư vào các quỹ đầu cơ. Một loại hình quỹ sẽ suy giảm mạnh là quỹ của quỹ đầu cơ. Các quỹ này không trực tiếp đầu tư vào thị trường, mà lựa chọn đầu tư vào các quỹ đầu cơ thông qua một hệ thống soát xét (due diligence) của mình. Về mặt lý thuyết, chính hệ thống due diligence này tạo ra giá trị gia tăng cho nhà đầu tư. Nhưng thực tế cho thấy rất ít quỹ của quỹ thực hiện due diligence mà chỉ là thực hiện vai trò cổ điển của một người môi giới để nhận hoa hồng. Các quỹ này không sớm thì muộn sẽ biến mất, và chỉ có một số ít quỹ của quỹ thực sự nghiêm túc mới có thể sống sót. Nhà đầu tư càng ngày sẽ càng đòi hỏi cao về tính minh bạch của quỹ đầu tư. Do đặc thù của quỹ đầu cơ, nhà đầu tư sẽ không thể đòi hỏi sự minh bạch tuyệt đối như với các quỹ tương hỗ. Hơn nữa, đòi hỏi này được đáp ứng nhiều hay ít còn phụ thuộc vào số tiền nhà đầu tư bỏ vào quỹ đầu cơ. Siết chặt giám sát hoạt động Quĩ đầu cơ cho đến nay không bị bắt buộc đăng kí hoạt động. Các chính trị gia đang tranh cãi để tìm cách đưa tất cả quỹ đầu cơ vào danh sách đăng kí và báo cáo thường quí. Nhưng sẽ rất nhiều quỹ đầu cơ tiếp tục đăng kí ở những thiên đường thuế để trốn tránh yêu cầu này. Mặc khác, chưa rõ ràng là báo cáo thường quí có thể giúp các nhà quản lý có đầy đủ thông tin hoạt động của quỹ đầu cơ hay không. Vụ lừa đảo của Madoff là một ví dụ rõ ràng nhất về trường hợp quỹ có đăng kí (với SEC – Securities & Exchange Commission của Mỹ) nhưng các nhà quản lý lại không hề hay biết gì về hoạt động thật sự của quỹ. Chính phủ các nước sẽ phải siết chặt các biện pháp quản lý và đưa ra ánh sáng những kẻ lừa đảo như Madoff và Stanford, chống lại tình trạng bán khống vô tội vạ (naked short selling - bán khống mà không cần biết có mượn được chứng khoán hay không), và đưa ra biện pháp giúp nhà đầu tư loại bỏ các nhân vật vô tích sự trong hội đồng quản lý quỹ đầu cơ. Các quỹ đầu cơ sẽ từng bước khắc phục những điểm hạn chế và sẽ trở nên mạnh mẽ hơn qua cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay. Những nhà quản lý quỹ tồi với những chiến lược đầu tư tồi sẽ ra đi, nhường lại sân chơi cho những bộ óc tài năng thật sự. Và một lần nữa, nhà đầu tư có thể sẽ lại chứng kiến sự tăng trưởng ấn tượng của các quỹ đầu cơ, chỉ hy vọng là những sai lầm quá khứ sẽ không bị lặp lại.(nguồn: vneconomy -Tác giả bài viết là Thạc sỹ Tài chính tại Trường Thương mại Cao cấp Paris (HEC Paris), Pháp.)

Triển vọng kinh tế 2010: Lạc quan và thận trọng

PDF.
+ 0
+ 0
Triển vọng kinh tế 2010: Lạc quan và thận trọngLạc quan và thận trọng, các chuyên gia kinh tế và doanh nghiệp hướng về năm 2010 với những kỳ vọng mới, nhưng cũng lường đến không ít trở ngại. Ông phân tích: “Hàm của nền kinh tế có nhiều biến, khôn lường và có những trường hợp không chạy theo những quy luật thông thường. Đó là đặc trưng của thị trường những ngày vừa qua, như giá vàng, phản ứng suy giảm thái quá trên thị trường chứng khoán... Hay chỉ cần một tin đồn thôi cũng có thể tạo những xáo trộn không theo quy luật kinh tế vĩ mô”. Và điều này, ngoài năng lực quản lý và điều hành của nhà hoạch định chính sách, còn phụ thuộc vào khả năng thích nghi, xoay xở của mỗi doanh nghiệp.

Sáp nhập doanh nghiệp niêm yết - không dễ

PDF.
+ 0
+ 0
Để tăng quy mô tài chính và tận dụng lợi thế của nhau, nhiều doanh nghiệp niêm yết đã tính chuyện sáp nhập. Tuy vậy, cho đến nay chưa có “cặp đôi” nào đạt được ý nguyện của mình. Lộ trình nhiêu khêGần đây có một thương vụ sáp nhập được cho là khá thành công giữa Công ty cổ phần Khoan và Dịch vụ khoan dầu khí (PVD) với công ty con PVD Invest (PVDI). Tuy vậy, việc sáp nhập này được thực hiện giữa một công ty niêm yết và một công ty có cổ phiếu đang giao dịch trên thị trường OTC. Còn từ trước đến nay, chưa có hai doanh nghiệp niêm yết trên sàn nào thực hiện sáp nhập. Trong vài tháng qua, có hai “cặp đôi” có ý định sáp nhập được thông tin rộng rãi là Công ty cổ phần Hà Tiên 1 sáp nhập với Hà Tiên 2 và Công ty cổ phần Miare (KMR) với Miare Fiber (KMF). Gần đây nhất, ngày 2-10, Hội đồng quản trị của Công ty cổ phần SHC đã thông qua chủ trương sáp nhập với Công ty Giao nhận kho vận ngoại thương TPHCM (TMS). Tuy vậy, cả ba thương vụ này đều còn một quãng đường dài nữa mới đến kết quả cuối cùng.Hành trình để thực hiện một thương vụ sáp nhập doanh nghiệp niêm yết, theo ông Đinh Quang Hoàn, Giám đốc tài chính doanh nghiệp Công ty Chứng khoán Bản Việt, bao gồm nhiều bước. Đầu tiên là hai doanh nghiệp có ý định sáp nhập sẽ làm hợp đồng tư vấn sáp nhập với một công ty tư vấn, sau đó họ sẽ tổ chức đại hội cổ đông để xin ý kiến về chủ trương sáp nhập. Nếu được thông qua, công ty tư vấn sẽ định giá tài sản và chọn lựa phương thức thanh toán, có thể bằng tiền, bằng cổ phiếu hoặc cả hai. Trong trường hợp chỉ thanh toán bằng cổ phiếu thì phía tư vấn sẽ đưa ra tỷ lệ hoán đổi. Hai công ty lại một lần nữa xin ý kiến cổ đông bằng văn bản hay tổ chức đại hội để thống nhất tỷ lệ hoán đổi cụ thể. Khi đã được cổ đông thông qua, doanh nghiệp sáp nhập mới sẽ xây dựng bản cáo bạch, và gửi hồ sơ xin phép Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cho phát hành cổ phiếu để thực hiện hoán đổi cổ phiếu của doanh nghiệp bị sáp nhập. Kế đến là doanh nghiệp bị sáp nhập sẽ xin hủy niêm yết. Doanh nghiệp sau sáp nhập phải xin giấy phép kinh doanh mới, sau khi phát hành thành công cổ phiếu để thực hiện hoán đổi thì phải làm thủ tục để niêm yết bổ sung cổ phiếu.Cho đến hiện tại, chủ trương sáp nhập của ba cặp doanh nghiệp nói trên đều chưa được lấy ý kiến cổ đông về tỷ lệ hoán đổi. Và theo thông tin từ phía Miare, ngày 27-10, công ty sẽ tổ chức đại hội cổ đông bất thường để xin ý kiến cụ thể về sáp nhập. Trong khi đó, cả hai công ty xi măng Hà Tiên 1 và 2 đều sẽ tổ chức đại hội cổ đông bất thường vào tháng 11 này để thông qua tỷ lệ chuyển đổi và các vấn đề liên quan đến việc sáp nhập. Theo ông Phạm Đình Nhật Cường, Phó tổng giám đốc Công ty Xi măng Hà Tiên 1, cả hai công ty hiện đang gấp rút tiến hành các bước thủ tục để cố gắng trong quí 1-2010 có thể hoàn thành. Tuy vậy, ông Cường cũng nhấn mạnh “đó là mong muốn chủ quan, còn những yếu tố khách quan thì chưa thể tiên liệu được”. Còn nhiều băn khoăn Do chưa có tiền lệ cũng như chưa có các hướng dẫn trong việc sáp nhập hai công ty niêm yết, nên các cơ quan quản lý như sở kế hoạch và đầu tư, nơi cấp giấy phép kinh doanh mới cho công ty đã sáp nhập, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Trung tâm Lưu ký chứng khoán đều phải vừa làm vừa rút kinh nghiệm. Vì thế doanh nghiệp niêm yết khi tiến hành sáp nhập rất lo về vấn đề thủ tục.Ông Hoàn cho rằng lộ trình kéo dài như trên ảnh hưởng rất lớn đến doanh nghiệp vì bị áp lực từ phía cổ đông. Thêm vào đó, cổ phiếu của công ty bị sáp nhập phải hủy giao dịch trước khi chuyển đổi, nên nếu thời gian lưu ký kéo dài cũng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của cổ đông do không thể chuyển nhượng cổ phiếu.“Nên học hỏi thông lệ quốc tế để việc sáp nhập doanh nghiệp được nhanh gọn và hợp lý hơn, tránh tình trạng các công ty có ý muốn sáp nhập phải chùn bước trước rào cản của các thủ tục hành chính rườm rà”, ông Hoàn nhấn mạnh. Không dễ tìm được sự đồng thuận của cổ đông Bản thân các doanh nghiệp khi tiến hành sáp nhập đã nhìn thấy được những lợi ích của việc “góp gạo” này, như vốn được tăng thêm, dự án được tiếp tục mở rộng, có thêm thị phần... Tuy vậy, “có sáp nhập được hay không còn phụ thuộc nhiều vào ý kiến cổ đông”, ông Hoàn khẳng định.Mỗi nhà đầu tư khi nắm giữ cổ phiếu đều có những chiến lược khác nhau, có người mong muốn công ty sáp nhập sẽ lớn mạnh hơn, giá cổ phiếu sẽ tăng, nên ủng hộ. Nhưng cũng có người băn khoăn không biết liệu sau khi sáp nhập công ty có còn làm ăn tốt như trước không, hoặc đằng sau sự sáp nhập ấy có gì uẩn khúc không?... Bên cạnh đó, tỷ lệ chuyển đổi cổ phiếu cũng là một trong những vấn đề thường khó đạt sự đồng thuận.Đầu tháng 11 sắp tới, Hà Tiên 1, Hà Tiên 2 sẽ tổ chức đại hội cổ đông về phương án sáp nhập, và như ông Hoàn nói thì “đây là mấu chốt của việc sáp nhập, nếu cổ đông không thông qua thì việc sáp nhập không thể diễn ra”. Và cũng vì vậy, cả bên tư vấn lẫn hai công ty đều đang tính toán một tỷ lệ chuyển đổi sao cho “vui vẻ cả làng”, tuy vậy “việc xung đột lợi ích sẽ khiến cho sự đồng thuận không dễ có”. Trong trường hợp Hà Tiên 1, theo ông Cường, công ty đã dự liệu trước những điều này, và ông khẳng định sự đồng thuận của Hà Tiên 1 là không khó.Lý do mà ông Cường đưa ra là ngoài cổ phần nhà nước không được tham dự biểu quyết theo Luật Chứng khoán là 65%, thì trong 35% còn lại, số quỹ đầu tư đang bỏ vốn vào Hà Tiên 1 là trên 75%, trong khi đa phần các quỹ này rất đồng tình với việc sáp nhập, số cổ đông riêng lẻ còn lại rất ít nên việc không thông qua được phương án sáp nhập là điều khó xảy ra. Nhưng với Hà Tiên 2, số lượng cổ đông cá nhân khá nhiều nên có thể có khó khăn trong việc sáp nhập hai công ty.Thời báo kinh tế Sài Gòn

Phân tích mô hình SCIC

PDF.
+ 0
+ 0
Phân tích mô hình SCIC Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) có hai chức năng chính là quản lý và đầu tư vốn của Nhà nước.Trên thế giới các công ty theo dạng này thường được gọi là Sovereign Wealth Fund (SWF) như Future Fund của Úc, Temasek/GIC của Singapore, ADIA của Saudi Arabia, hay CIC/SAFE của Trung Quốc.Các SWF của các nước thường có nguồn vốn từ thặng dư ngân sách chính phủ (nhiều trường hợp từ nguồn bán tài nguyên thiên nhiên) hoặc từ quỹ dự trữ ngoại hối của ngân hàng trung ương.Trường hợp SCIC của Việt Nam, nguồn vốn duy nhất cho đến thời điểm này là số cổ phần của Nhà nước trong các doanh nghiệp được cổ phần hóa.Sự ra đời của SCIC là một bước phát triển tất yếu khi hình thức địa phương/bộ chủ quản trước đây không còn phù hợp trong một nền kinh tế thị trường. Có thể nói vai trò chính của SCIC từ khi thành lập đến nay là tập trung cổ phần của Nhà nước vào một cơ quan có khả năng và chuyên môn để quản lý hiệu quả.Trong vài năm gần đây, SCIC ráo riết thoái vốn khỏi một số công ty trong các lĩnh vực không quan trọng và bắt đầu tích trữ một lượng tiền mặt khá lớn. Do vậy, từ đầu năm 2008, SCIC bắt đầu chủ động đem tiền đi đầu tư vào những dự án lớn trong các lĩnh vực điện lực, dầu khí, cơ sở hạ tầng và cả những kế hoạch liên doanh với một số SWF nước ngoài (Qatar, Kuwait).Những hoạt động này cho thấy SCIC đang hướng đến mô hình Temasek của Singapore, chuyển dần từ quản lý một danh mục đầu tư (portfolio) các doanh nghiệp được Bộ Tài chính chuyển giao sang chủ động đi tìm các cơ hội đầu tư vào các ngành mũi nhọn.Hình thức này về cơ bản là một dạng quỹ đầu tư lớn vào các doanh nghiệp chưa niêm yết (private equity fund) với một cổ đông duy nhất là Nhà nước. Kinh nghiệm của Temasek cho thấy hai điều kiện cần để mô hình này có thể thành công là tính minh bạch trong hoạt động và tính chuyên nghiệp trong quản lý và điều hành các hoạt động đầu tư. Ngay từ khi ra đời cho đến nay, cả Chính phủ Singapore lẫn các lãnh đạo Temasek luôn khẳng định công ty này hoạt động hoàn toàn vì lợi nhuận và không chịu bất kỳ sự can thiệp nào của chính phủ. Để thuyết phục các nhà đầu tư, các đối tác kinh doanh và chính phủ các nước, Temasek cố gắng minh bạch tối đa các hoạt động của mình.Theo đánh giá của Edward Truman (Peterson Institute for International Economics) chỉ số minh bạch của Temasek đứng thứ hai ở châu Á và là một trong những SWF có chỉ số minh bạch vào loại cao trên thế giới. Mức độ minh bạch của Temasek thể hiện rất rõ qua việc tự nguyện công bố báo cáo tài chính hàng năm (gọi là Temasek Review) mặc dù theo luật Singapore công ty này không có nghĩa vụ công bố vì không phải là công ty đại chúng.Cho đến thời điểm này, rõ ràng SCIC chưa minh bạch như Temasek. Ngoài một số rất ít thông tin công bố trên báo chí, SCIC không công khai báo cáo tài chính định kỳ, không có kiểm toán độc lập và đặt biệt là không phân biệt ranh giới giữa quyết định thương mại và quyết định chính sách.Trong điều kiện không minh bạch như vậy, sự xuất hiện của SCIC trong thị trường đầu tư vào doanh nghiệp rất có thể gây hiệu ứng chèn ép các nguồn vốn khác từ các quỹ nước ngoài như VinaCapital, Dragon, hay các công ty tư nhân lớn có tiềm lực. Sự không minh bạch cũng sẽ làm giảm hiệu quả đầu tư và giảm tính cạnh tranh của bản thân SCIC. Nếu một ngày nào đó SCIC có ý định đầu tư ra nước ngoài như Temasek thì minh bạch hóa là điều kiện tiên quyết.Điều kiện thành công thứ hai của Temasek là tính chuyên nghiệp của đội ngũ lãnh đạo và các quy trình quản lý và đầu tư. Hội đồng quản trị chín người của Temasek chỉ duy nhất có một đại diện của Bộ Tài chính Singapore, còn lại là các doanh nhân thành đạt và uy tín.Trong số 380 nhân viên của Temasek, 36% là các chuyên gia quốc tịch nước ngoài (trong đó có cả người Việt Nam). Ngược lại, toàn bộ hội đồng quản trị của SCIC là các quan chức hoặc cựu quan chức chính phủ, hầu hết không có kinh nghiệm kinh doanh.Tuy SCIC không công bố nhưng không có dấu hiệu nào cho thấy SCIC có thuê chuyên gia nước ngoài hoặc thuê tư vấn chuyên nghiệp trong các hoạt động đầu tư của mình. Thậm chí Quy chế người đại diện của SCIC còn giới hạn chỉ có công dân Việt Nam mới có thể đại diện SCIC ngồi trong các hội đồng quản trị các công ty mà SCIC quản lý. Một hạn chế đáng tiếc trong hoàn cảnh Việt Nam còn rất thiếu những người có khả năng và kinh nghiệm quản trị doanh nghiệp.Tính chuyên nghiệp của Temasek còn thể hiện qua chiến lược, quy trình đầu tư, cơ chế quản lý rủi ro và nhất là chế độ lương thưởng gắn liền vào lợi nhuận đầu tư.Với SCIC, chưa kể việc thiếu vắng một quy trình đầu tư minh bạch và chuyên nghiệp, một cơ chế quản lý rủi ro hiện đại, những người đại diện cho SCIC hoàn toàn không có một chế độ đãi ngộ và thưởng nào theo cơ chế thị trường. Các quy định về lương và phụ cấp của người đại diện không khác gì của một nhân viên hành chính sự nghiệp.Rất có thể ngay cả các chuyên viên đầu tư của chính bản thân SCIC cũng không có chế độ lương thưởng xứng đáng với kết quả đầu tư. Điều này vừa làm giảm động cơ làm việc, vừa dễ gây ra chảy máu nhân viên có năng lực cho các quỹ đầu tư tư nhân khác.Không kể hoàn cảnh khách quan mà SCIC phải đương đầu hiện khó khăn hơn rất nhiều so với Temasek những năm 70-80 của thế kỷ trước, việc SCIC không đảm bảo được tính minh bạch và tính chuyên nghiệp sẽ làm mong ước lặp lại thành công của Temasek trở nên rất xa vời.Nếu SCIC không hoạt động hiệu quả nó sẽ không khác gì một bộ phận mở rộng của Bộ Tài chính, vẫn chỉ là bình mới rượu cũ cho việc quản lý và đầu tư vốn nhà nước.Lê Hồng Giang (TBKTSG)

Giữ lấy “tài sản” của mình

PDF.
+ 0
+ 0
Nhân viên lấy khách hàng của công ty đưa cho đối thủ cạnh tranh để được hưởng ưu đãi đặc biệt. Câu hỏi đặt ra: Lỗi thuộc về ai? Ban lãnh đạo doanh nghiệp, mà cụ thể là mô hình quản lý và kiểm soát kém? Hay đó là ứng xử thiếu đạo đức của nhân viên? Hay là sự cạnh tranh không lành mạnh của đối thủ?  

100 ngày đầu tiên của CFO

PDF.
+ 0
+ 0
100 ngày đầu tiên của CFOCác giám đốc tài chính trên toàn thế giới mô tả 100 ngày đầu tiên về công việc của họ là khoảng thời gian nhận được sự hướng dẫn nhiều nhất, nhưng cũng có nhiều khó khăn khi thời gian không đủ cho những ưu tiên hàng đầu của họ.  

Trang 25 trong tổng số 26 trang.